BỘ MÔN KỸ THUẬT TRUYỀN THÔNG
DEPARTMENT OF COMMUNICATION ENGINEERING
GIỚI THIỆU CHUNG (đang cập nhật...)
Ngày 01/09/2026, Bộ môn Kỹ thuật truyền thông được thành lập trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại hai Bộ môn Kỹ thuật viễn thông và Bộ môn Kỹ thuật thông tin theo Quyết định số 2151/QĐ - ĐHGTVT ngày 22 tháng 8 năm 2026 của Trường. Đây là hai Bộ môn có kinh nghiệm đào tạo nhiều năm trong lĩnh vực Điện tử - Viễn thông thông qua hai chuyên ngành chính là Kỹ thuật viễn thông, Kỹ thuật thông tin và truyền thông. Quyền Trưởng Bộ môn Kỹ thuật truyền thông là PGS.TS. Trần Hoài Trung. Email liên hệ: trungth@utc.edu.vn.
Mục tiêu đào tạo của Bộ môn Kỹ thuật truyền thông là trang bị cho người học các kiến thức cơ bản tích hợp ở ba lĩnh vực Điện tử - Viễn thông - Công nghệ thông tin, các công nghệ mới, có khả năng nghiên cứu, thiết kế, xây dựng, khai thác các hệ thống hiện đại, thích ứng tốt trong môi trường làm việc của các Tập đoàn, các Tổng công ty, các Cơ quan, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài... Bên cạnh đó người học cũng được trang bị phương pháp tư duy hệ thống, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng thực hành, sáng tạo và làm việc độc lập.
Ở bậc đào tạo Thạc sĩ, học viên được trang bị các kiến thức nâng cao và chuyên sâu trong lĩnh vực Kỹ thuật viễn thông, có khả năng ứng dụng tốt trong thực tế.
Bộ môn đảm nhận
▪ Đào tạo bậc Đại học - chuyên ngành Kỹ thuật viễn thông (thuộc ngành Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông mã số: 7.52.02.07-03);
▪ Đào tạo bậc Đại học - chuyên ngành Kỹ thuật thông tin và truyền thông (thuộc ngành Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông mã số: 7.52.02.07-02);
▪ Đào tạo bậc Đại học - chương trình chất lượng cao Kỹ thuật viễn thông (thuộc ngành Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông mã số: 7.52.02.07-QT);
▪ Đào tạo bậc Thạc sĩ - ngành Kỹ thuật viễn thông (mã số 8.52.02.08).
ở cơ sở Hà Nội và chuyên ngành Kỹ thuật viễn thông (bậc Đại học, Thạc sĩ) tại Phân hiệu với các chương trình:
✓ Hệ đại học (4 năm cho Cử nhân, 5 năm cho Kỹ sư);
✓ Hệ liên thông (2 năm);
✓ Hệ vừa làm vừa học (4-5 năm);
✓ Hệ cao học (thạc sĩ nghiên cứu hoặc ứng dụng, 2 năm từ cử nhân, 1 năm từ kỹ sư);
✓ Hệ liên kết đào tạo trong và ngoài nước.
Các thông tin cụ thể về chương trình đào tạo ngành và chuyên ngành tham khảo mục Đào tạo trên website: http://feee.utc.edu.vn.

- Lễ trao bằng cho sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Kỹ thuật viễn thông K52 (2015)
Một số cột mốc chính về lịch sử và nhiệm vụ của hai Bộ môn:
1. Bộ môn Kỹ thuật viễn thông:
Bộ môn Kỹ thuật Viễn thông thuộc Khoa Điện - Điện tử chính thức được thành lập ngày 12 tháng 6 năm 2006 theo Quyết định số 913/TCCB - ĐHGTVT. Năm 2026, Bộ môn kỷ niệm 20 năm thành lập và 35 năm đào tạo chuyên ngành Kỹ thuật viễn thông.
Ban đầu là Bộ môn “Thông tin - Tín hiệu” (thành lập năm 1970) thuộc Khoa Cơ khí. Năm 1996 đổi tên thành Bộ môn “Thông tin - Tín hiệu - Viễn Thông” thuộc Khoa Cơ khí - Điện. Tiếp đó, năm 2001 được tách thành Bộ môn “Thông tin - Viễn Thông” và Bộ môn “Tín hiệu” thuộc Khoa Điện - Điện tử. Đến năm 2006, Bộ môn “Thông tin - Viễn Thông” được tách ra thành hai Bộ môn “Kỹ thuật viễn thông” và Bộ môn “Kỹ thuật thông tin” (tham khảo mục Lịch sử hình thành trên website: http://feee.utc.edu.vn).
Chuyên ngành Kỹ thuật viễn thông được đào tạo ở cả hai cơ sở của Trường. Bắt đầu từ Khóa 31 (1990-1995) tại TP. Hồ Chí Minh và Khóa 32 (1991-1996) tại Hà Nội. Trường Đại học Giao thông vận tải (ĐH GTVT) tự hào là trường đại học đầu tiên trên toàn quốc mở và đào tạo Kỹ sư Kỹ thuật viễn thông. Cho đến tháng 08/2026 đã đào tạo 30 Khóa với hơn 4000 Sinh viên, 22 Khóa cao học với hơn 480 Thạc sĩ, 02 Tiến sĩ. Bộ môn đến tháng 08/2026 có 13 Giảng viên tại Hà Nội: 02 PGS.TS, 05 TS (trong đó 02 TS đang ở nước ngoài), 07 ThS và 03 Giảng viên tại Phân hiệu: 03 TS.
Bộ môn Kỹ thuật viễn thông đảm nhận quản lý:
- Đào tạo bậc Đại học - chuyên ngành Kỹ thuật viễn thông (thuộc ngành Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông mã số: 7.52.02.07);
- Đào tạo bậc Đại học - chương trình chất lượng cao Kỹ thuật viễn thông (thuộc ngành Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông mã số: 7.52.02.07);
- Đào tạo bậc Thạc sĩ - ngành Kỹ thuật viễn thông (mã số 8.52.02.08);
Quy mô hàng năm của Bộ môn có khả năng đào tạo: 140 sinh viên Đại học chương trình chuẩn, 50 sinh viên Đại học chương trình chất lượng cao, 10 học viên Cao học.
Nguyên Trưởng Bộ môn Kỹ thuật viễn thông: PGS.TS. Trần Hoài Trung.

Gặp mặt các Thầy Cô đã nghỉ hưu nhân ngày Nhà giáo Việt nam 20/11 tại Bộ môn Kỹ Thuật Viễn thông (2015)
2. Bộ môn Kỹ thuật thông tin:
Bộ môn Kỹ thuật Kỹ thuật Thông tin được thành lập theo Quyết định số 2151/QĐ-ĐHGTVT ngày 22 tháng 08 năm 2026 của Hiệu Trưởng trường đại học Giao thông Vận tải nhằm đáp ứng với xu hướng phát triển của khoa học công nghệ và đào tạo trong giai đoạn mới.
Lịch sử của bộ môn Kỹ thuật thông tin gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của bộ môn Thông Tin - Tín hiệu (1968 - 1992), bộ môn Thông tin- Tín hiệu và Viễn thông (1992-2000), bộ môn Thông tin - Viễn thông (2000-2006), bộ môn Kỹ thuật Thông tin (2007-2026)
Bộ môn Kỹ thuật thông tin thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo trong lĩnh vực điện tử, truyền thông.
Bộ môn Kỹ thuật thông tin đảm nhận quản lý:
- Đào tạo bậc Đại học - chuyên ngành Kỹ thuật thông tin và truyền thông (thuộc ngành Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông mã số: 7.52.02.07);
Bộ môn trực tiếp quản lý giảng dạy các môn học: Cơ sở kỹ thuật thông tin số, Kỹ thuật siêu cao tần, Kỹ thuật phát thanh truyền hình, Kỹ thuật xử lý âm thanh và hình ảnh, Kỹ thuật định vị dẫn đường, Kỹ thuật thông tin sợi quang, Các hệ thống thông tin trong doanh nghiệp, Thông tin vệ tinh, Truyền số liệu trong truyền thông, Mạng và các chuẩn giao thức, Tổ chức thông tin trong giao dịch điện tử, An toàn mạng thông tin, Quản trị mạng thông tin, Các thuật toán thiết kế mạng thông tin, Xây dựng dự án phát triển mạng thông tin, Mạng thông tin đường sắt, Thông tin di động trong đường sắt (GSM-R), Hệ thống tiếp đất và bảo vệ, Mạng truyền thông và di động ... Số lượng Giảng viên : 06 (trong đó: 04 Tiến sĩ, 02 Thạc sĩ).
Nguyên Trưởng Bộ môn Kỹ thuật thông tin: GVC-TS. Nguyễn Đức Toàn.

Lễ bế giảng và trao bằng tốt nghiệp chuyên ngành Kỹ thuật thông tin và truyền thông (2016)







